Skip navigation
Photo

Điện tiếp tục căng thẳng

Việc đảm bảo cấp điện cho mùa khô năm 2011 và các năm 2012-2013 gặp nhiều khó khăn. Kết quả kiểm tra của Bộ Công thương với khoảng 50 dự án điện thuộc Tổng sơ đồ VI đang và sắp thi công cho thấy, tổng công suất đặt các nguồn điện đưa vào vận hành năm 2010 chỉ đạt 2.272 MW, dự kiến năm 2011 đạt 5.110 MW và cả 2 năm 2012-2013 đạt khoảng 4.500 MW.

So với yêu cầu theo phương án cơ sở trong Quy hoạch điện VI đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (phù hợp với tốc độ tăng trưởng phụ tải hiện nay) thì năm 2010 phải có thêm 4.960 MW, năm 2011 thêm 5.401 MW, năm 2012 là 6.554 MW và năm 2013 là 7.309 MW. Thực tế thi công các công trình điện như nói trên cũng cho thấy, nếu các dự án chuẩn bị khởi công vẫn tiếp tục bị chậm, thì không thể đảm bảo cung cấp đủ điện cho các năm tiếp theo.

Cho tới nay, trong tổng số 33 dự án nguồn điện đang thi công, có 11 dự án đã được đẩy mạnh và đang bám sát tiến độ bao gồm: Thủy điện Srêpok 3, Srêpok 4, Sông Tranh 2, Đăk My 4, Sê San 4A, A Lưới, Đăk Rtih và Nhiệt điện Uông Bí mở rộng 2, Cẩm Phả II, Nhơn Trạch II, Vũng Áng I. Các dự án còn lại bị chậm từ 1 đến 6 tháng.

Vẫn theo báo cáo trên, có hai nguyên nhân chính dẫn đến chậm tiến độ các dự án điện, đó là thiếu vốn và năng lực triển khai dự án.

Về vấn đề vốn, rất nhiều dự án chưa thu xếp xong nguồn vốn, hoặc đã ký hợp đồng vay vốn nhưng chưa có hiệu lực như Duyên Hải I, Duyên Hải II, Long Phú I, Đồng Nai 3..., hoặc hợp đồng vay vốn có hiệu lực quá chậm như: Nhiệt điện Quảng Ninh II, Hải Phòng II...

Về vấn đề chuẩn bị triển khai, bản kết quả kiểm tra nêu rõ, công tác đấu thầu, cung cấp thiết bị công nghệ ở một số dự án bị chậm; tình trạng chậm cung cấp bản vẽ thi công và dự toán vẫn tồn tại ở nhiều dự án; hay nhân lực cùng thiết bị thi công của các nhà thầu ở hầu hết các dự án không đáp ứng yêu cầu, ở nhiều dự án thiếu cán bộ kỹ thuật làm hồ sơ hoàn công cũng ảnh hưởng tới việc nghiệm thu, thanh toán... Mặc dù các vấn đề nêu trên không phải là mới, nhưng cho tới nay, những khó khăn xưa cũ đó vẫn chưa có hướng giải quyết hiệu quả, làm ảnh hưởng tới tiến độ chung.

Ngoài ra, công tác chạy thử, hiệu chỉnh các dự án nhiệt điện bị kéo dài hơn nhiều so với dự kiến do hệ thống thiết bị phụ trợ thường bị hỏng hóc, nhà thầu EPC lại không tích cực sửa chữa kịp thời như ở một số dự án nhiệt điện Cẩm Phả, Quảng Ninh, Hải Phòng hay Sơn Động.

Ở các dự án lưới điện đồng bộ với các nguồn điện đưa vào vận hành năm 2010-2011 cũng diễn ra tình trạng chậm tiến độ. Tuy nhiên, thiệt hại do sự chậm trễ này lại được “khắc phục” bởi các dự án nguồn điện vào chậm, nên các dự án lưới điện lại đỡ bị lệch pha! Dẫu vậy, nguy cơ những năm tiếp theo, hệ thống lưới điện khó đáp ứng được yêu cầu đồng bộ với các nguồn điện ngày càng hiện rõ nếu không có giải pháp tháo gỡ.

Bộ Công thương cho rằng, cùng với việc Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (NPT) không đủ khả năng huy động đủ vốn đáp ứng yêu cầu đầu tư theo quy hoạch, công tác giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn, nguyên nhân chính là do chưa có cơ chế giữ hành lang tuyến đối với các dự án lưới điện đã được quy hoạch, nên nhiều dự án phải thoả thuận lại tuyến nhiều lần do trùng với quy hoạch các dự án hạ tầng khác; các dự án thường nằm trên địa bàn rộng, đi qua nhiều tỉnh nên gặp khó khăn trong việc lập phương án bồi thường.

Theo nhận định của các chuyên gia, trong trường hợp thủy văn tiếp tục diễn biến bất lợi trong mùa khô năm 2011, tình trạng thiếu hụt điện năng phát trong thời gian từ tháng 3 đến hết tháng 6/2011 sẽ xảy ra, dự kiến lượng điện thiếu hụt có thể lên tới cả tỷ kWh. Câu chuyện thiếu điện - cắt điện sẽ lại tái diễn.

(Theo báo Đầu tư)